Prefer to talk to a pro?
Call today, and let us connect you with the perfect merchant!
Call today, and let us connect you with the perfect merchant!
Top Auto Businesses in Hartford, CT 06103
Prefer to talk to a pro?
Call today, and let us connect you with the perfect merchant!
Call today, and let us connect you with the perfect merchant!
Where do you need Auto Businesses ?
Related articles
How to Get Manufacturer's Rebates
How to Install Brake Pads
How to Find Car Specs
Updates & tips
Phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ
Hướng dẫn lập dàn ý cho bài phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc - Ngữ văn 12. Ngoài ra, trong bài viết này VUIHOC sẽ cung cấp cho các bạn sơ đồ tư duy cùng bài văn mẫu phân tích theo hướng dẫn để các bạn có thể nắm chắc kiến thức, cùng theo dõi nhé! 1. Dàn ý phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc1.1. Mở bài Học sinh viết giới thiệu một cách khái quát về tác giả Phạm Văn Đồng (những nét tóm tắt chính về con người, cuộc đời, những đóng góp tiêu biểu của tác giả cho nền văn học,…). Giới thiệu thông tin tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (khái quát về hoàn cảnh ra đời, xuất xứ tác phẩm, tổng quát giá trị về 2 mặt là nội dung và nghệ thuật của tác phẩm,…) 1.2. Thân bài a. Đặt vấn đề: Nguyễn Đình Chiểu – một nhà thơ lớn, là một ngôi sao sáng của nền văn nghệ dân tộc Tác giả Phạm Văn Đồng đã so sánh Nguyễn Đình Chiểu với một ngôi sao – ngôi sao có “ánh sáng khác thường”, “phải chăm chú nhìn thì mới thấy” và “càng nhìn thì càng thấy sáng”. → Nguyễn Đình Chiểu được cho như là một ngôi sao và tồn tại nguồn ánh sáng khác với bình thường Tác giả Phạm Văn Đồng cũng chỉ ra được thực trạng: nhiều người đọc chỉ biết tới Nguyễn Đình Chiểu trên tư cách là tác giả của tác phẩm “Lục Vân Tiên”, lại ít biết về những tác phẩm thơ văn yêu nước của ông. b. Giải quyết vấn đề * Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu và quan niệm văn chương của ông: - Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng với người theo dõi ông, suốt cả đời người ông luôn nỗ lực phấn đấu vì nhiều nghĩa lớn. - Đối với Nguyễn Đình Chiểu, văn chương đó chính là một loại vũ khí trong chiến đấu. - Đối với Nguyễn Đình Chiểu, được viết văn đó là một “thiên chức” và ông rất coi trọng chức trách này của mình. * Thơ văn yêu nước: - Làm sống lại trong tâm trí người đọc phong trào chống Pháp oanh liệt, bền bỉ của nhân dân Nam Bộ hơn 20 năm qua - từ 1860 đến nay. - Tác phẩm “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”: Ca ngợi những người anh hùng suốt đời vì dân vì nước, đồng thời cũng là tiếng khóc trước những hi sinh, đau thương, mất mát mà họ đã phải gánh chịu. - Bài thơ “Xúc cảnh”: đây là một trong số những bông hoa đẹp, “những hòn ngọc” tạo nên nét đẹp trong thơ văn yêu nước của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu. * Tác phẩm “Lục Vân Tiên”: - Đây là một bản trường ca “ca ngợi hành động chính nghĩa, những đạo đức trân quý ở đời người, ca ngợi những người có phẩm chất trung nghĩa”. - Lối viết đại khải nhưng dễ nhớ, dễ hiểu, đây là một bản trường ca đầy hấp dẫn từ khi bắt đầu cho tới kết thúc, dẫu vẫn còn vài điểm sai sót. - Hạn chế: Một số luân lí cũ và đã lỗi thời nên có đối chỗ lời văn không được hay lắm. c. Kết luận: - Đời sống và sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu chính là một tấm gương rất sáng của cả dân tộc nước Việt Nam. - Tác giả đã khẳng định rằng “Nguyễn Đình Chiểu là một chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn của nước ta”. - Nguyễn Đình Chiểu đã là một tấm gương sáng trong văn hóa nghệ thuật và cũng như trên mặt trận tư tưởng. 1.3. Kết bài Khái quát được các nét đặc sắc về mặt nội dung, nghệ thuật của tác phẩm “Nguyễn Đình Chiểu – ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” và hãy nêu lên cảm nhận của bản thân về tác phẩm này cũng như về Nguyễn Đình Chiểu. 2. Sơ đồ tư duy phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc 3. Bài văn mẫu phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc Đề bài: Phân tích bài "Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc" của Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Bài mẫu: Thủ tướng Phạm Văn Đồng là nhà chính trị, nhà ngoại giao tài ba, nhà văn hóa lớn. Ông đã để lại rất nhiều tác phẩm có giá trị cho thế hệ sau. Với những đóng góp to lớn cho đất nước, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều huân chương cao quý khác. Về văn học, Phạm Văn Đồng đã viết nhiều bài tùy bút đặc sắc về các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh... Trong đó có Nguyễn Đình Chiểu, một ngôi sao sáng trong mảng văn nghệ dân tộc. Bài viết nhân dịp kỷ niệm 75 năm ngày mất của nhà thơ Đồ Chiểu (3-7-1888) và đăng trên Tạp chí Văn học số tháng 7-1963. Đây là thời điểm đế quốc Mỹ quyết định tài trợ và can thiệp nhiều hơn sâu sắc hơn trong cuộc chiến ở miền Nam. Phong trào chống Mỹ và tay sai của nhân dân miền Nam Việt Nam nổi lên khắp nơi, tiêu biểu là phong trào đồng khởi của nhân dân Bến Tre. Hoàn cảnh lịch sử này giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao tác giả Phạm Văn Đồng lại chú trọng đến điều đó khi viết bài ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu. Nội dung sâu sắc và mới mẻ mà tác giả bộc lộ trong bài viết như sau: Nguyễn Đình Chiểu, một nhân cách trong sáng, một nhà thơ lớn của dân tộc cần được đánh giá đúng hơn, đầy đủ hơn. Bài viết có sức hấp dẫn mạnh mẽ bởi ngôn ngữ giàu cảm xúc, thiết tha của tác giả, kết hợp với nhiều hình ảnh, từ ngữ có sức liên tưởng, gợi cảm cao, đặc biệt là bút pháp nghị luận chặt chẽ, chính xác. Tác giả mở đầu bài viết bằng một nhận định khách quan, thời sự, chứa đựng luận điểm (chủ đề) của bài viết: Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ lớn của nước ta, lẽ ra phải sáng hơn trên bầu trời văn hóa của dân tộc, nhất là lúc này. thời gian. Chúng ta đang ở năm 1963, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Các dân tộc miền Bắc vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trở thành hậu phương lớn chi viện cho các dân tộc miền Nam chống đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ lính ngụy quyền bán nước. Từ năm 1954 đến năm 1959, đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm thực hiện chính sách tố cộng, ra sức đuổi bắt, khủng bố những người kháng chiến cũ, bắt bớ, giam cầm và gây ra nhiều vụ thảm sát đẫm máu khắp miền Nam Tổ quốc. Từ năm 1960, Mỹ quyết định viện trợ tài chính và can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến. Năm 1964, chúng đưa thêm 16.000 quân và sĩ quan Mỹ vào miền Nam. Một năm sau, con số đó đã tăng lên 543.000. Trước tình hình đó, phong trào chống Mỹ ngụy của nhân dân miền Nam nổi lên với sức mạnh và quyết tâm cao; tiêu biểu nhất là phong trào đồng khởi ở Bến Tre. Đó là thời điểm Cách mạng miền Nam đứng trước muôn vàn khó khăn, thử thách. Hoàn cảnh lịch sử trên đây giúp chúng ta hiểu rõ hơn vì sao Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhấn mạnh thời điểm viết bài văn tế ca ngợi nhà thơ yêu nước mù Nguyễn Đình Chiểu, nhằm mục đích khẳng định truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Cả nước vùng lên diệt bọn bán nước cướp nước. Tác giả đã sử dụng nghệ thuật ẩn dụ để khẳng định tài năng văn chương và tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùng quý báu của nhà thơ ở xứ Nam Kỳ: Trên trời có những vì sao sáng khác thường, Mà mắt ta phải tinh mới thấy, càng nhìn, chúng ta càng thấy sáng sủa hơn. Thơ Nguyễn Đình Chiểu là vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, hiểu Lục Vân Tiên khá thiên về nội dung và văn chương, mà ít ai biết đến những áng văn yêu nước của nhà văn - nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu, khúc tráng ca của phong trào yêu nước chống giặc Pháp khi chúng đến nước ta cả trăm năm trước! Theo tác giả, có hai nguyên nhân khiến ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu chưa sáng trên bầu trời văn nghệ nước nhà. Lý do thứ nhất: Nhiều người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của truyện Lục Vân Tiên và có cách hiểu khá phiến diện về nội dung và nghệ thuật của truyện. Lý do thứ hai: Đa số bạn đọc biết rất ít về văn thơ yêu nước, một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu. Từ đây, tác giả đã đi đến kết luận: Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước được thể hiện qua các tác phẩm là những trang bất hủ đã ca ngợi cuộc đấu tranh oanh liệt của nhân dân ta chống quân xâm lược phương Tây ngay từ buổi đầu chúng đặt chân đến đất nước ta. Các luận điểm nêu trong phần mở đầu này đã được tác giả phân tích, chứng minh để làm rõ trong các phần sau. Trong phần thân bài, trước hết tác giả giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu, nêu bật khí chất của một nhà thơ yêu nước, yêu dân, xả thân vì nghĩa lớn: Nguyễn Đình Chiểu sinh ra vốn là một nhà Nho, nhưng lại lớn lên ở vùng đất Đồng Nai trù phú, sống giữa lúc nước nhà lâm nguy, vua Nguyễn đã rắp tâm bán nước để giữ ngôi, nhưng khắp nơi nhân dân, nho sĩ đã anh dũng nổi lên đánh giặc cứu nước. Vì bị mù cả hai mắt nên hoạt động của chí sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn. Và những tác phẩm này, ngoài giá trị nghệ thuật, còn có giá trị ở chỗ soi sáng tâm hồn đặc biệt trong sáng và cao thượng của tác giả, kể câu chuyện của một thời đại vĩ đại nhưng khiêm nhường! Tác giả nhận định: Cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương sáng về lòng yêu nước nhiệt thành và lòng căm thù giặc sâu sắc. Quan điểm của ông là lấy văn thơ làm vũ khí chống xâm lược, ca ngợi chính nghĩa và truyền thống đạo đức tốt đẹp của nhân dân lao động, phê phán những kẻ lợi dụng văn chương để làm những việc bẩn thỉu, xa vời. Ý trên được thể hiện qua hai đoạn văn ngắn gọn, cô đọng: Cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là của người chiến sĩ xả thân chiến đấu vì nghĩa lớn. Thơ Nguyễn Đình Chiểu là thơ chiến đấu, trực tiếp chống giặc ngoại xâm và bè lũ tay sai: “Học theo ngòi bút chí công Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân thu” Đối với Nguyễn Đình Chiểu, việc cầm bút viết văn đó là một nhiệm vụ thiêng liêng. Và Nguyễn Đình Chiểu càng coi trọng trách nhiệm của mình bao nhiêu thì càng khinh bỉ những kẻ lợi dụng văn chương để làm điều bất nghĩa bấy nhiêu: “Thấy nay cũng nhóm văn chương Vóc dê da cọp khôn lường thực hư!” Sau khi Phạm Văn Đồng khẳng định về cuộc đời và phong cách sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, tác giả đã lần lượt lấy những áng văn yêu nước và thêm tác phẩm Lục Vân Tiên để chứng minh điều đó. Phân tích văn và thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng đã đặt chúng ở trong bối cảnh lịch sử cụ thể lúc bấy giờ của nhân dân các dân tộc Nam Bộ với phong trào chống Pháp của Trương Định, Nguyễn Hữu Huân và trong dòng chảy của văn học Việt Nam. của giai đoạn này để thấy rõ nguồn cảm hứng sáng tác là tất yếu, đồng thời khẳng định vị trí ngọn cờ đầu của Nguyễn Đình Chiểu trong nền thơ văn yêu nước chống Pháp thời kỳ cận đại cuối thế kỷ XIX. Tác giả nhận xét về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu với một luận điểm ngắn gọn, súc tích: Văn thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống dậy trong tâm trí chúng ta phong trào kháng chiến chống Pháp cách mạng, tê liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ năm 1860, suốt hai mươi năm trời. Tại sao tác giả lại chọn mở đầu phần này bằng việc tái hiện lại hình ảnh lịch sử đất nước ta trong giai đoạn lịch sử sau năm 1860? Bởi một nhà văn chỉ thực sự vĩ đại khi tác phẩm của anh ta phản ánh trung thực những nét sơ đẳng nhất của một giai đoạn lịch sử có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của đất nước và nhân dân. Về điểm đặc biệt này, Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một ngôi sao sáng trong nền văn hóa nghệ thuật của dân tộc. Trong khi các vua và quan nhà Nguyễn thua trận, đầu hàng giặc thì các tầng lớp nhân dân Nam Bộ bấy giờ, nhân sĩ, hiền nhân đều quyết tâm vùng lên đánh giặc cứu nước. “Giặc đến đàn bà nhất định phải đánh”. Phong trào bắt đầu nổi lên ở miền Đông, rồi lan ra cả “Lục tỉnh”, biến thành cuộc chiến tranh nhân dân ở nhiều nơi, có lúc sôi nổi, mạnh mẽ khác thường, thậm chí làm địch không thể chống nổi. Xin lỗi để vinh danh... Tác giả gọi quãng đời của Nguyễn Đình Chiểu là khoảng thời gian đau khổ mà lớn lao. Như vậy, những sáng tác của nhà thơ - nhà văn Nguyễn Đình Chiểu vừa là một tấm gương phản chiếu của một thời đại cũng vừa là lời kêu gọi nhân dân vùng lên đánh giặc, ngợi ca các nghĩa sĩ, vừa là lời than thở cho các anh hùng liệt sĩ. chiến đấu vì nước, vì dân. Tác giả nhận định: Không phải ngẫu nhiên mà văn, thơ yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, phần nhiều là đức hy sinh, ca ngợi những anh hùng cả đời trung với nước và thương tiếc những nghĩa sĩ đã hi sinh. cho người dân. Tuy vậy, bên cạnh đó, văn học chân chính cũng phải tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là vậy. Phạm Văn Đồng nói: “Văn nghệ của Nguyễn Đình Chiểu rất hay vì nó cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh chống thực dân, làm rung động lòng người trước những hình ảnh sống động và vô cảm của nhân dân khắp thế giới. Cuộc sống đúng với đất nước, đầy ý nghĩa. đối với nhân dân, giữ vững lòng dũng cảm ngay cả trong thất bại. Mặt khác, bản chất của văn học là sáng tạo. Văn học đóng góp vào cuộc sống những gì độc đáo, chưa từng thấy trong các tác phẩm trước đây hay cùng thời. Đây là lý do tại sao Phạm Văn Đồng nói về bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nhiều nhất và nhiệt tình nhất. Bài văn của tác giả Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn học nghệ thuật của dân tộc, được viết không chỉ với một tâm thế trong sáng, sâu sắc mà còn có sức truyền cảm đặc biệt mạnh mẽ. Sự kết hợp giữa trái tim và khối óc đã cho phép tác giả viết nên những câu văn hay nhất, lay động lòng người. Nhưng tác giả không viết về Nguyễn Đình Chiểu với nỗi niềm của một hoài niệm mà tác giả luôn nhìn những người lớn tuổi hôm nay và đặt ra những vấn đề cho cuộc sống hôm nay. Chính vì vậy, những con người sống trọn vẹn trong cuộc đấu tranh anh dũng chống đế quốc xâm lược càng có điều kiện đồng cảm với một con người cũng sống trọn vẹn trong cuộc đấu tranh vẻ vang chống thực dân Pháp. Điều đó cũng khiến Nguyễn Đình Chiểu trở thành một ngôi sao mà càng gặp bà càng sáng hơn. Nghệ thuật của đoạn văn này thể hiện ở bút pháp lập luận chặt chẽ, ở bố cục rõ ràng, mạch lạc, ở ngôn ngữ trong sáng, tự nhiên với những lời bình ngắn gọn, có trọng điểm và mới mẻ về bài văn tế. : Ngòi bút, nghĩa khí trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả sinh động, ấm áp tình cảm của dân tộc đối với nghĩa quân nghĩa quân vốn là người nông dân, xưa chỉ quen cày cuốc, bỗng trở thành anh hùng cứu nước. Tác giả trích một đoạn trong bài Văn Tế, so sánh với Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi và nhận xét: Hai lần thử thách, hai hoàn cảnh, hai thời điểm, nhưng một con người. Đại cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công chưa từng có, mừng chiến công làm rạng rỡ đất nước. Bài ca tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là bài ca của những người anh hùng tuy thân bại danh liệt nhưng vẫn hiên ngang: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc… thề suốt đời báo thù… ". Kết thúc đoạn này, tác giả bày tỏ lòng kính trọng trước hương hồn của nhà chí sĩ yêu nước và nghĩa quân đã anh dũng hy sinh vì nghĩa lớn: Có lẽ dưới suối vàng linh hồn Nguyễn Đình Chiểu và nghĩa quân ngày ấy, hôm nay còn Hơi Hài lòng. Phần sau, tác giả trình bày Truyện Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, nhất là ở Nam Bộ, đồng thời nêu một số nhận xét chưa đúng về Truyện Lục Vân Tiên. Ông đã chứng minh giá trị của tác phẩm này bằng cách phân tích cái hay, cái đẹp cả về nội dung và nghệ thuật: Vâng, đó là một bài thơ tuyệt bút ca ngợi chính nghĩa, những đức tính cao quý ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa! Tác giả cũng nhận xét một cách khách quan rằng: Tất nhiên, những giá trị đạo đức mà Nguyễn Đình Chiểu chủ trương, trong thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta đã có phần lạc hậu... về nghệ thuật trong tác phẩm Lục Vân Tiên Hịch tướng sĩ Phạm Văn Đồng cũng chỉ ra rằng: về văn Lục Vân Tiên, cần lưu ý đó là văn “kể”. Tác giả chủ ý viết theo kiểu “lóng”, dễ hiểu, dễ nhớ, có sức truyền bá rộng rãi trong nhân dân. Cho nên, dù có những chỗ thơ chưa hay, chưa chắt lọc cũng không tránh khỏi thiếu sót. Dù thế nào đi nữa, một số thiếu sót văn học nhất định không thể làm giảm giá trị nghệ thuật của bản sử thi hấp dẫn từ đầu đến cuối. Đánh giá trên cho thấy tác giả là người luôn giữ sự trung thực và công bằng khi thảo luận. Bài viết được tác giả kết thúc bằng những câu văn có thể hiện tình cảm kính yêu và lòng biết ơn chân thành đối với Nguyễn Đình Chiểu: Nhân ngày kỷ niệm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (ngày 3 tháng 7 năm 1988), trong lòng mỗi chúng ta, chúng ta hãy đốt một nén hương cho ông để tưởng nhớ một người con mang đầy quang vinh của dân tộc. Giá trị của văn chính luận Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn hiến của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ ở nội dung sâu sắc, giàu cảm xúc mà còn ở bút pháp lập luận cô đọng, mạch lạc bằng một ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc. có sức thuyết phục cao. ngôn ngữ. Với sự hiểu biết sâu rộng, cái nhìn mới mẻ, tâm huyết, từ một người hết lòng vì nước, vì dân, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ mối quan hệ mật thiết giữa văn thơ Nguyễn Đình Chiểu với hoàn cảnh lịch sử tại thời điểm đó và với thời điểm hiện tại. Tác giả hết lòng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, nhà thơ suốt đời lấy ngòi bút làm vũ khí chiến đấu vì dân, vì nước: Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là ngôi sao sáng trong văn học nghệ thuật nước nhà. Xem thêm: Soạn bài Ngữ Văn 12 - Tổng hợp đầy đủ chương trình Văn 12 Trên đây là hướng dẫn lập dàn ý và cách phân tích tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc - trong chương trình Soạn bài ngữ văn 12. Ngoài ra, để học nhiều hơn các kiến thức các môn học của THPT thì các em hãy truy cậpvuihoc.vnhoặc đăng ký khoá học với các thầy cô VUIHOC ngay bây giờ nhé! Nguồn: https://vuihoc.vn/tin/thpt-phan-tich-nguyen-dinh-chieu-ngoi-sao-sang-trong-van-nghe-cua-dan-toc-1736.html More: https://www.vuihocthpt.vn/2023/07/phan-tich-tac-pham-nguyen-dinh-chieu.html
Soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt - Ngữ Văn 12
Sự trong sáng của tiếng Việt là một chủ đề vẫn luôn nằm trong những chủ đề rất hay trong ngữ văn. Trong bài viết này, VUIHOC sẽ cung cấp cho các bạn về cách soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, các bạn hãy theo dõi nhé! 1. Sự trong sáng của tiếng Việt1.1. Nói hoặc viết phải đúng chuẩn mực, đúng quy tắc của tiếng Việt Tiếng Việt là một ngôn ngữ có một hệ thống những chuẩn mực và các quy tắc chung để hình thành nên nền tảng vững chắc trong giao tiếp (nói và viết) về một số mặt như: phát âm, chữ viết, cách dùng từ, đặt câu, cấu tạo nên lời nói, bài viết; có khả năng diễn đạt một cách khái quát và đầy đủ, tinh tế trong đời sống tư tưởng, tình cảm đầy phong phú và đẹp đẽ của dân tộc nước ta từ hàng ngàn năm xưa… Diễn đạt: đầy đủ nội dung ngoài ra cần phải đầy đủ ý, không nên diễn đạt thiếu quá nhiều ý hoặc trình bày sai quy tắc được đề ra thì lại dẫn đến kết quả là sai chuẩn mực và mất đi sự trong sáng vốn có của tiếng việt. Muốn giữ gìn được sự trong sáng của tiếng Việt thì chúng ta phải: diễn đạt được đầy đủ, chính xác và phù hợp với chuẩn mực và quy tắc trong tiếng việt. Chuẩn mực sẽ không phủ nhận đi những sự chuyển đổi một cách linh hoạt và sáng tạo và không phủ nhận cái mới. Ví dụ: Ban ngày cũng như ban đêm, khi tiếng ếch tiếng nhái kêu là lúc cảm thấy ồn ào và khó chịu Câu ở trên là một lỗi sai ngữ pháp, trong câu không hề có chứa cụm Chủ - Vị mà chỉ tồn tại bổ ngữ chỉ thời gian và bổ ngữ chỉ nguyên nhân 1.2. Tiếng Việt không cho phép lai tạp một cách tùy tiện những yếu tố của những ngôn ngữ khác Để có thể làm cho tiếng Việt giữ được tính trong sáng, giàu có và phát triển thì dân tộc chúng ta cần phải biết tiếp thu những tinh hoa từ những ngôn ngữ khác, tuy nhiên cũng phải tránh sự lạm dụng, pha tạp khi không thực sự cần thiết dùng tới. Sự trong sáng của tiếng Việt đồng thời là không có sự pha tạp với những yếu tố lai căng tuy nhiên cũng vẫn phải dung nạp thêm được những yếu tố tích cực hơn từ ngôn ngữ khác nhưng vẫn không làm mất đi sự trong sáng của tiếng việt. Sự trong sáng mà chúng ta nên giữ gìn là những phẩm chất tốt đẹp nhất của tiếng Việt nhưng chúng ta cũng cần vay mượn thêm để làm tăng lên vốn từ vựng và làm phong phú thêm phần trong ngữ pháp của tiếng Việt. Sự trong sáng của tiếng việt cũng được biểu hiện ở tinh thần văn hóa, lịch sự trong lời nói: Thời đại nay dường như mọi vấn đề phát ngôn cần phải được chú trọng, quan tâm hơn bởi lẽ là do lứa trẻ hiện nay hay có thói quen tục chửi bậy, ăn nói thiếu văn hóa… Sự trong sáng trong lời nói đó chính là sự thể hiện vẻ thanh lịch, nét văn hóa của mỗi con người Ví dụ: Cô ca sĩ này ở Việt Nam có nhiều fan hâm mộ quá nhỉ? Fan ở được hiểu là người hâm mộ, cách người viết sử dụng từ “fan” trong câu nói này dẫn tới việc thừa nghĩa có ở trong câu, đây là sự lạm dụng tiếng nước ngoài nhưng lại không thật sự cần thiết. 1.3. Sự trong sáng của tiếng Việt còn được biểu hiện ở tính văn hóa và lịch sự của lời nói Nói năng lịch sự có văn hóa cũng chính là biểu hiện của sự trong sáng của tiếng Việt. Ngược lại, khi chúng ta ăn nói một cách thô tục, mất lịch sự, thiếu văn hoá từ đó có thể sẽ làm mất đi vẻ đẹp vốn có về sự trong sáng của tiếng Việt Khi bắt đầu giao tiếp giữa con người với nhau thì chúng ta cần phải thể hiện được một thái độ tôn trọng với đối phương thông qua cách xưng hô với đối phương cũng như lời nói của bản thân mình. Với mỗi một mối quan hệ khác nhau sẽ có cách xưng hô khác nhau làm thế nào để cho vẫn phân biệt được vai vế một cách rõ ràng, chính xác đồng thời vẫn thấy được sự tôn trọng, lịch sự lẫn nhau Ví dụ: Khi nói chuyện với người lớn thì nên lễ phép, thưa gửi một cách đàng hoàng, không được ăn nói thô lỗ thiếu chủ ngữ vị ngữ với người trên. 2. Trách nhiệm giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt Để có thể giữ gìn được tính trong sáng của tiếng Việt dân tộc mình, mỗi người trong chúng ta khi bắt đầu nói hoặc viết về vấn đề gì hãy nên để ý và chú ý thực hiện những yêu cầu sau đây: Chúng ta cần phải có ý thức cao về sự tôn trọng và dành tình cảm yêu quý đặc biệt cho tiếng Việt. Mỗi người trong chúng ta nên phải thấy được: "Tiếng nói là thứ của cải quý giá vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu của cả dân tộc ta. Chúng ta cần phải có trách nhiệm giữ gìn nó, quý trọng nó, làm nó phổ biến và ngày càng rộng khắp”. (Hồ Chí Minh) Cần phải gây dựng được thói quen cẩn trọng, cân nhắc trong lời nói, “lựa lời” khi sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp, sao cho câu từ của mình phải phù hợp với các nhân tố giao tiếp, hoàn cảnh và cũng phải đạt được hiệu quả một cách tốt nhất. Mỗi người trong chúng ta nên phải rèn luyện thêm nhiều về năng lực nói và viết tuân theo những chuẩn mực về ngữ âm, về chữ viết, về từ ngữ, ngữ pháp và kể cả về các đặc điểm phong cách văn học. Muốn được như thế, mỗi cá nhân chúng ta cần phải luôn luôn tích cực trau dồi thêm về lời ăn tiếng nói của mình trên tinh thần của một câu châm ngôn từ lâu đời “học ăn, học nói, học gói, học mở” để chúng ta có thể nói đúng, viết đúng đồng thời cũng nói hay và viết hay, có thể đạt ý kiến đạt được tới mức độ “lời hay, ý đẹp” và cũng mang tính lịch sự, có văn hóa. Cần phải tránh tối đa việc sử dụng những câu từ thô tục, kệch cỡm, tránh đi những yếu tố pha tạp, lai căng, dù rằng chúng ta đang ở thời đại mới và ngày nay nên cần phải tiếp nhận thêm một số những từ ngữ hoặc các cách diễn đạt có mang giá trị tích cực từ những ngôn ngữ khác nhưng cũng cần phải biết sử dụng hợp lý, sử dụng đúng nơi đúng chỗ và đúng trường hợp. 3. Luyện tập3.1. Câu 1 (Trang 33 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Phân tích tính chuẩn xác trong việc sử dụng từ ngữ của tác giả Hoài Thanh và Nguyễn Du khi chỉ ra những nét tiêu biểu về diện mạo hoặc tính cách của những nhân vật trong Truyện Kiều. […] Nhưng trong Truyện Kiều còn có bao nhiêu người khác. Có chàng Kim, con người rất mực chung tình, có Thúy Vân, cô em gái ngoan, có Hoạn Thư, người đàn bà bản lĩnh khác thường, biết điều mà cay nghiệt, có Thúc Sinh, anh chàng sợ vợ, có Từ Hải chợt hiện ra, chợt biến đi như một vì sao lạ, mỗi người một cá tính khó quên. Đối với bọn nhà chứa, ngòi bút Nguyễn Du không tò mò, Nguyễn Du ngại bới ra những gì quá dơ dáy, Nguyễn Du chỉ ghi vội vài nét. Nhưng chỉ vài nét cũng đủ khiến cả cái xã hội ghê tởm đó sống nhơ nhúc dưới ngòi bút Nguyễn Du tới cái màu da “nhờn nhợt” của Tú Bà, cái bộ mặt “mày râu nhẵn nhụi” của Mã Giám Sinh, cái kẻ “chải chuốt”, “dịu dàng” của Sở Khanh, cái miệng thề “xoen xoét” của Bạc Bà, Bạc Hạnh. (Theo Hoài Thanh toàn tập, tập 2, NXB Văn học, Hà Nội,1999) Trả lời: Phân tích sự chuẩn xác trong khả năng sử dụng từ ngữ của tác giả Hoài Thanh và Nguyễn Du khi đưa ra những nét đặc trưng về mặt diện mạo và mặt tính cách của các nhân vật trong truyện Kiều. Nhân vật Kim Trọng: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: hết mực chung tình - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: Là nhân vật được phác họa lên là một người chung tình đối với nhân vật Thúy Kiều (Đau đớn rất nhiều khi biết được tin Thúy Kiều bán mình để chuộc lại cha, dù rằng đã nên duyên cùng với người em Thúy Vân nhưng Kim Trọng vẫn một lòng một dạ luôn nhớ về Kiều, trân trọng những kỷ niệm xưa cũ…) Nhân vật Thúy Vân: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: là một cô em gái rất ngoan - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: hiền lành, ngoan ngoãn, (Thúy Vân chấp nhận thay chị để trả mối nhân duyên với Kim Trọng) Nhân vật Hoạn Thư: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: dù biết điều nhưng mà rất cay nghiệt - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: độc ác, cay nghiệt (hiện lên với hình ảnh một người ghen tuông và có những hành động trừng phạt Thúy Kiều một cách rất là thô bạo, cay nghiệt. Là người biện giải khá là thông minh và bản lĩnh trong cuộc báo ân báo oán) Nhân vật Thúc Sinh: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: sợ vợ - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật:: khi Thúc Sinh nhìn thấy Thúy Kiều bị hành hạ như vậy nhưng lại không hành động gì hết mà chỉ biết đứng nhìn. Nhân vật Từ Hải: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: bỗng chợt hiện ra, bỗng chợt biến đi như một vì sao lạ. - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: tuy thời gian nhân vật xuất hiện không nhiều nhưng lại hiện lên như cứu tinh của Thúy Kiều và chính nhân vật này đã có công lớn giúp cho Thúy Kiều báo ân báo oán, lấy lại hạnh phúc cho Kiều. Nhân vật Tú Bà: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: Màu da “nhờn nhợt” - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: Cho thấy nhân vật này có thể xác nhơ nhớp do sống lâu và tồn tại bằng nghề bán phấn buôn hương. Nhân vật Mã Giám Sinh: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: Bộ mặt “mày râu nhẵn nhụi” - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: Cho thấy đây là nhân vật có bộ dạng của một kẻ lừa đảo Nhân vật Sở Khanh: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: “chải chuốt”, “dịu dàng”,”bóng bảy” - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: Cho thấy đây là nhân vật trong trạng thái luôn luôn trau chuốt, giả tạo để đi lừa gạt những cô gái trẻ. Nhân vật Bạc Bà, Bạc Hạnh: - Từ ngữ sử dụng để miêu tả: cái miệng thề “xoen xoét” - Đặc điểm phản ánh tính cách của nhân vật: Cho thấy đây là một kẻ chuyên đi dối trá, lọc lừa. ⇒ Những câu từ đã được đại thi hào Nguyễn Du và tác giả Hoài Thanh đề cập tới để miêu tả các nhân vật một cách rất chuẩn xác đã miêu tả rất đúng được diện mạo hoặc lột tả được phần nào tính cách nhân vật cho người đọc tưởng tượng. Tác giả đã sử dụng một cách chuẩn xác tiếng việt vào việc mô tả nên tính cách của mỗi người. 3.2. Câu 2 (Trang 34 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Đoạn văn dưới đây của tác giả Chế Lan Viên đã bị lược bỏ một số dấu câu. Hãy đặt lại các dấu câu cần thiết vào những vị trí thích hợp để có thể đảm bảo sự trong sáng của đoạn văn. "Tôi có lấy ví dụ về một dòng sông dòng sông vừa trôi chảy vừa phải tiếp nhận dọc đường đi của mình những dòng nước khác dòng ngôn ngữ cũng vậy một mặt nó phải giữ bản sắc cố hữu của dân tộc nhưng nó không được phép gạt bỏ từ chối những gì mà thời đại đem lại." Trả lời: Cách 1: “Tôi có lấy một số ví dụ về một dòng sông. Dòng sông vừa chảy, vừa phải đón nhận – dọc đường đi của mình – những dòng nước khác. Dòng ngôn ngữ cũng tương tự vậy: một mặt nó phải giữ bản sắc vốn có của dân tộc, nhưng nó lại không được phép gạt bỏ, từ chối những gì thời đại đem lại.” Cách 2: “Tôi có lấy một số những ví dụ về một dòng sông. Dòng sông vừa phải chảy vừa phải tiếp nhận (trên dọc đường đi của mình) những dòng nước khác. Dòng ngôn ngữ cũng được hiểu tương tự như vậy: một mặt nó phải giữ bản sắc vốn có của dân tộc nhưng nó lại không được phép gạt bỏ và từ chối những gì mà thời đại đem lại.” 3.3. Câu 3 (Trang 34 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Hãy đưa ra nhận xét về việc sử dụng những từ nước ngoài trong các trường hợp sau. Hãy thay những từ ngữ mà anh (chị) cho rằng đã lạm dụng bằng những từ ngữ tiếng Việt tương xứng. "Chỉ vài ngày sau khi Microsoft vá lỗi nghiêm trọng trong phần mềm xử lý file đồ hoạ, một hacker xưng là “cocoruder” đã công bố chi tiết về hai vấn đề tương tự trong hệ điều hành." Trả lời: Từ Microsoft là tên của một công ty nên giữ nguyên Từ File có thể được chuyển thành từ “tệp tin” để một số người được mà không quen sử dụng máy tính vẫn có thể hiểu được từ này. Từ hacker thì chúng ta nên dịch ra nghĩa là những kẻ đột nhập trái phép vào những hệ thống máy tính cho tất cả mọi người dễ hiểu hơn. Từ cocoruder cũng là một danh xưng nên có thể được giữ nguyên. 3.4. Câu 1 (Trang 44 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Chọn câu văn trong sáng trong những câu sau và phân tích sự trong sáng đó: a) Muốn xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, đòi hỏi chúng ta phải có những kế hoạch cụ thể. b) Muốn xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, chúng ta phải có những kế hoạch cụ thể. c) Việc xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn, đòi hỏi chúng ta phải có những kế hoạch cụ thể. d) Chúng ta phải có những kế hoạch cụ thể để xóa bỏ sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn Trả lời: Dưới đây, VUIHOC sẽ đưa ra cho các bạn một số cách trả lời cho đề bài này để có thể soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt một cách tối ưu nhất! Cách trả lời 1: Trong 4 câu a, b, c, d: - Câu a không có tính trong sáng do chứa từ đòi hỏi không cần thiết, mang nhiều phong cách khẩu ngữ, vì vậy câu này thiếu sự trong sáng. - Câu b,c,d là những câu văn trong sáng vì những câu này đã chuẩn về mặt ngữ pháp, đồng thời cũng không có từ ngữ dư thừa hay sai phong cách. Cách trả lời 2: - Ở câu a, câu này không giữ được sự trong sáng của tiếng Việt đã sử dụng thừa từ “đòi hỏi”, khiến cho câu không có đầy đủ chủ ngữ, vị ngữ. - Các câu b,c, d đều đã đảm bảo được tính trong sáng của tiếng Việt: đã đầy đủ các thành phần của câu, diễn đạt trong đã câu rõ ràng, trong sáng. Cách trả lời 3 - Câu a từ “đòi hỏi” là không cần thiết, nếu bỏ đi từ này thì câu văn có thể diễn đạt được sự trong sáng. - Các câu b, c, d là những câu văn trong sáng do đã thể hiện đầy đủ và rõ ràng các thành phần ngữ pháp và quan hệ trong câu. Xem thêm: Soạn bài Ngữ Văn 12 - Tổng hợp đầy đủ chương trình Văn 12 3.5. Câu 2 (Trang 45 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Hãy đọc lời quảng cáo sau đây và cho biết từ nước ngoài nào không cần thiết sử dụng vì đã có từ tiếng việt có ý nghĩa và sắc thái biểu cảm thích hợp với nội dung cần biểu đạt. "Bạn chờ đợi gì trong ngày lễ Tình nhân – một ngày hạnh phúc của những đôi lứa yêu nhau và luôn mong muốn mang đến cho nhau những gì ngọt ngào nhất? Ca sĩ V tiết lộ: Tôi là con người dễ thương và lãng mạn, hiện tại tôi cũng yêu như thế”. Vậy lãng mạn trong ngày Valentine của chàng hoàng tử này sẽ như thế nào? Còn ca sĩ T vẫn luôn mơ về một chàng “bạch mã hoàng tử”, vậy nàng mong chờ chàng hoàng tử của mình sẽ ra sao trong ngày Tình yêu?" Trả lời: Trong phần văn dùng để quảng cáo đã sử dụng tới 3 hình thức để biểu hiện ra cùng một nội dung là: ngày lễ tình nhân, ngày Valentine, ngày tình yêu. Tiếng Việt đã có hình thức biểu hiện khá thỏa đáng là “ngày tình yêu” (biểu hiện được ý thức cao đẹp đó là tình yêu của con người). Ngày lễ tình nhân: “tình nhân” ở đây được cấu tạo theo ngôn ngữ trong tiếng Hàn thiên hướng nói về con người -> không thích hợp trong trường hợp này. Valentine: Sử dụng hình thức biểu hiện của tiếng nước ngoài -> không thích hợp. Trên đây, VUIHOC đã cung cấp cho các bạn chi tiết cách soạn bài Giữ gìn sự trong sáng của tiếng việt - Ngữ văn 12. Ngoài ra, để học nhiều hơn các kiến thức các môn học của THPT thì các em hãy truy cậpvuihochoặc đăng ký khoá học THPT với các thầy cô VUIHOC ngay bây giờ nhé! Nguồn: https://vuihoc.vn/tin/thpt-soan-bai-giu-gin-su-trong-sang-cua-tieng-viet-1732.html More: https://www.vuihocthpt.vn/2023/07/soan-van-giu-gin-su-trong-sang-cua.html
Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập - Ngữ Văn 12
“Tuyên ngôn Độc lập” vừa là áng văn chính luận mẫu mực, vừa là một văn kiện lịch sử có giá trị vô cùng to lớn của dân tộc Việt Nam ta. Bài viết dưới đây, VUIHOC sẽ gợi ý cho các bạn soạn bài Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh để nhằm giúp học sinh dễ dàng nắm bắt được giá trị của tác phẩm. 1. Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập: Phần tìm hiểu chung Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập để hiểu rõ hơn về một áng văn chính luận mẫu mực của Hồ Chủ tịch và có ý nghĩa vô cùng to lớn với nhân dân Việt Nam. Những hướng dẫn soạn văn bài Tuyên ngôn độc lập dưới đây sẽ giúp bạn nắm vững giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc trong tuyệt phẩm có giá trị muôn đời này của Người. 1.1. Tác giả a) Tiểu sử Hồ Chí Minh (19/05/1890 – 02/09/1969), tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ra ở Kim Liên – Nam Đàn – tỉnh Nghệ An trong một gia đình nhà nho giàu lòng yêu nước. Chính nhờ sự nuôi dưỡng tinh thần dân tộc, lòng yêu nước ngay từ khi còn nhỏ nên cuộc đời Bác đã dành trọn cho nước, cho dân. Người là nhà cách mạng lỗi lạc của Việt Nam, Người đã giải phóng đất nước khỏi kiếp nô lệ ngàn năm và mở ra thời kỳ chủ nghĩa độc lập, tự do cho dân tộc. 05/06/1911 Bác ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảng Nhà Rồng. Bác đặt chân đến nhiều đất nước trên thế giới, làm nhiều nghề và học nhiều ngôn ngữ. 03/02/1930 Bác đã thành lập ra Đảng Cộng sản Việt Nam. 28/01/1941 Người trở về nước. 02/09/2945 Người đọc Tuyên Ngôn Độc Lập tại quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. b) Sự nghiệp văn học - Quan điểm sáng tác + Phong cách sáng tác đa dạng, cái nhìn đa chiều cùng với tinh thần dân tộc to lớn luôn thường trực được Bác chia sẻ trong từng sáng tác của mình. Các tác phẩm của Bác đều thể hiện rất rõ tính chân thật trong văn chương và ý thức trách nhiệm của người cầm bút cũng như tính chiến đấu, xuất phát từ đối tượng, mục tiêu hướng đến để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. + Bác coi ngòi bút là một vũ khí chiến đấu để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Các tác phẩm luôn chú trọng tính dân tộc và tính chân thực. - Phong cách nghệ thuật đa dạng: văn chính luận, truyện, văn xuôi, thơ ca, bút ký,… - Di sản văn học + Văn chính luận Viết bằng trí tuệ sắc sảo, lý trí sáng suốt. Thể hiện tấm lòng yêu nước sâu sắc, nồng nàn của một trái tim vĩ đại. Lời văn chặt chẽ, thuyết phục, súc tích. Các tác phẩm tiêu biểu: Các bài văn chính luận trên các báo: “Người cùng khổ”, “nhân đạo”... Bản án chế độ thực dân Pháp Tuyên ngôn Độc lập Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến + Truyện và ký Thể hiện vốn văn hóa sâu rộng, trí tưởng tượng phong phú, trí tuệ sắc sảo. Trái tim cách mạng tràn đầy lòng yêu nước. Các tác phẩm tiêu biểu: Lời than vãn của bà Trưng Trắc Vi hành + Thơ ca Tái hiện một cách chân thực, cụ thể bộ mặt tàn bạo của chế độ nhà tù Quốc dân đảng và xã hội Trung Quốc. Ghi lại suy nghĩ, tâm trạng và cảm xúc của tác giả, thể hiện tâm hồn và nhân cách cao đẹp của người chiến sĩ cách mạng trong ngục tù. Bức chân dung tự họa của thi sĩ - chiến sĩ Hồ Chí Minh. Các tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ “Nhật ký trong tù” Nguyên tiêu Cảnh khuya + Văn chính luận: Ngắn gọn, súc tích. Lập luận chặt chẽ, sắc sảo, bằng chứng giàu sức thuyết phục Đa dạng vè bút háp + Truyện và ký Bút pháp hiện đại, có tính chiến đấu mạnh mẽ Nghệ thuạt trào phúng đặc sắc. + Thơ ca Sự kết hợp độc đáo giữa: Sự giản dị, trong sáng và hàm súc, sâu sắc. Bút pháp cổ điển và hiện đại Chất trữ tình và chất “thép” 1.2. Tác phẩm a) Hoàn cảnh ra đời Thời điểm ra đời bản Tuyên ngôn độc lậpL phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, nước ta giành lại chính quyền trên mặt trận cả nước. 28/08/1945, Bác viết ra bản Tuyên ngôn độc lập tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội. 02/09/1945, trước toàn thể đồng bào cả nước, Bác đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. b) Mục đích sáng tác Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc ta trước thực dân và toàn thế giới. Tuyên bố chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến, thực dân; khai sinh ra nước Việt Nam và từ đó bày tỏ lòng quyết tâm bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc. c) Bố cục Đoạn 1: Từ đầu - “không ai chối cãi được”: nguyên lý bản tuyên ngôn độc lập. Đoạn 2: Tiếp - “phải được độc lập”: dẫn chứng tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định thực tế lịch sử của nhân dân ta cùng với quyết tâm đấu tranh giành lại chính quyền, lập ra nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Đoạn 3: (Phần còn lại): tuyên bố đanh thép về độc lập và ý chí bảo vệ nền độc lập. d) Nội dung chính Vạch trần tội ác tày trời của bè lũ thực dân; tuyên bố nền độc lập tụ chủ dân tộc; khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ý chí quyết tâm mạnh mẽ một lòng bảo vệ nền độc lập tự do của dân tộc. e) Giá trị nội dung Khẳng định với toàn thế giới về một đất nước Việt Nam toàn vẹn, tự do và độc lập lãnh thổ; toàn dân ta đã thoát khỏi chế độ thực dân, thoát khỏi sự kìm kẹp của ách nô lệ. Tác phẩm còn lên án tố cáo mạnh mẽ tội ác của bọn thực dân Pháp và những âm mưu, thủ đoạn xâm lược của chúng đối với dân tộc Việt Nam. Tình yêu nước cháy bỏng và thương dân như con ở vị cha già kính yêu của dân tộc được thể hiện rõ nét trong từng câu chữ. g) Giá trị nghệ thuật Ngôn từ đanh thép, cứng rắn, lập luận chặt chẽ, sắc bén, chứng cứ xác thực. Hình ảnh giàu sắc thái biểu cảm. 2. Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập: Tìm hiểu chi tiết về tác phẩm2.1. Tìm hiểu về cơ sở pháp lý của bản tuyên ngôn Độc lập Việc Bác trích dẫn 2 bản tuyên ngôn nổi tiếng của Mỹ và Pháp làm cơ sở pháp lý cho bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam có ý nghĩa to lớn: Tôn trọng những lời tuyên ngôn bất hủ của người Mỹ và Pháp. Những điều được nêu trong hai bản tuyên ngôn này được coi là chân lý của nhân loại. Dùng lập luận khôn khéo “gậy ông đập lưng ông” để buộc tội hành động xâm lược của thực dân Pháp là sai trái, ngăn chặn âm mưu tái xâm lược nước ta của chúng. Thể hiện quyền tự hào dân tộc và nâng cao giá trị của bản tuyên ngôn độc lập khi đặt ngang hàng 3 cuộc cách mạng, 3 bản tuyên ngôn, 3 dân tộc với nhau. 2.2. Tố cáo tội ác tày trời của thực dân Pháp đã gây ra Đưa ra hàng loạt những dẫn chứng xác thực, mạnh mẽ tố cáo tội ác man rợ của thực dân Pháp trên mọi mặt đời sống: về mặt xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, khi chúng cai trị nước ta. Đưa ra lý lẽ giải thích thuyết phục, dẫn chứng cụ thể: từ mùa thu 1940 đến 9/3/1945, thực dân Pháp đã hai lần bán nước ta cho Nhật. Vậy nên chúng không còn bất kỳ một quyền lợi cai trị nào ở nước ta. 2.3. Khẳng định quyền độc lập tự do của dân tộc Việt Nam ta Trình bày rành mạch về cuộc đấu tranh chính nghĩa giành lại độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam: – Nhân dân Việt Nam đã nổi dậy đòi lại chính quyền, lấy lại đất nước từ tay của Nhật. – Quân và dân ta đã nhiều lần kêu gọi thực dân Pháp cùng chống Nhật nhưng đều bị chúng từ chối. Khi Pháp thua, đồng bào ta vẫn khoan hồng và giúp đỡ chúng trở về nước. – Toàn dân ta đã đánh đổ các chế độ phong kiến cũ nát, xiềng xích của thực dân và phát xít. – Quân và dân ta luôn tin vào sự nghiêm minh, công bằng của các nước Đồng Minh. ⇒ Đưa ra lời khẳng định chắc nịch và đề cao tinh thần sẵn sàng hi sinh thân mình để giữ nước, thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta. Dân tộc ta hoàn toàn xứng đáng có được tự do độc lập từ chính máu xương của mình. 3. Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập - Ngữ Văn 12: Hướng dẫn trả lời câu hỏi3.1. Tuyên ngôn độc lập Phần 1: Tác giảa) Câu 1 (Trang 29 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Quan điểm trong sáng tác văn học của Hồ Chí Minh: – Nhà văn là chiến sĩ, văn học là vũ khí, phụng sự cho sự nghiệp cách mạng lớn lao. – Luôn luôn hướng tới tính chân thật và tính dân tộc trong mỗi tác phẩm. – Xác định rõ mục đích, đối tượng hướng đến để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm. – Các tác phẩm văn thơ của Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá đi liền với sự nghiệp cách mạng cao cả. Thơ văn của Người luôn mang đậm tư tưởng sâu sắc, phản ánh tâm hồn và ý chí cách mạng. b) Câu 2 (Trang 29 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Khái quát về di sản văn học của Hồ Chí Minh - Về văn chính luận: Những tác phẩm chính luận của Bác nhằm mục đích đấu tranh, tấn công trực diện kẻ thù, thức tỉnh và giác ngộ quần chúng nhân dân… Ngòi bút sắc bén, cứng rắn, lập luận chặt chẽ, thuyết phục, trí tuệ sắc sảo, khéo léo, lời văn ngắn gọn, súc tích nhưng chứa đầy tình cảm Những tác phẩm tiêu biểu: + Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); + Tuyên ngôn độc lập (1945); + Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946) - Về truyện và kí Các tác phẩm với mục đích tố cáo tội ác man rợ, bản chất xảo trá, gian xảo của thực dân, đề cao tinh thần yêu nước. Giọng kể trần thuật, bám sát thực tế, bút pháp hiện đại, trí tưởng tượng phong phú. Tác phẩm tiêu biểu: + Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922) + Vi hành tàn bạo (1923) + Những trò lố hay là Va-ren và Phan Bội Châu tàn bạo (1925) - Về thơ ca Thể hiện tâm hồn người nghệ sĩ tài hoa, người chiến sĩ cách mạng với những nhân cách cao đẹp và nghị lực mạnh mẽ phi thường. Bác đã để lại 250 bài thơ trong 3 tập: Nhật kí trong tù, Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, Thơ Hồ Chí Minh c) Câu 3 (Trang 29 SGK Ngữ Văn 12 tập 1)Đặc điểm phong cách nghệ thuật của tác giả Hồ Chí Minh – Văn chính luận: ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ thuyết phục, giọng văn hùng hồn, đanh thép – Truyện và kí: hiện đại, mang nét nghệ thuật trào phúng sắc sảo và mang sức chiến đấu cao – Với thơ ca: đan xen hòa quyện giữa hiện thực và lãng mạn, cổ điển và hiện đại. 3.2. Tuyên ngôn độc lập Phần 2: Tác phẩma) Câu 1 (Trang 41 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Phân chia bố cục tác phẩm – Phần 1 (Từ đầu - “không ai chối cãi được”): Cơ sở lý luận của bản Tuyên ngôn Độc lập. – Phần 2 (Tiếp - “phải được độc lập”): Tố cáo những tội ác tàn bạo mà giặc đã gây ra và khẳng định cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. – Phần 3 (đoạn còn lại); Lời tuyên bố độc lập và ý chí mạnh mẽ bảo vệ chủ quyền độc lập của dân tộc. b) Câu 2 (Trang 41 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp và bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ là cách lập luận vừa khôn khéo vừa sắc bén của Hồ Chủ tịch: Dùng chính lý lẽ trong 2 bản tuyên ngôn làm cơ sở pháp lí để tuyên bố nền độc lập cho dân tộc mình. Là cơ sở để suy rộng ra nền tự do của các dân tộc đang chịu áp bức, bóc lột trên toàn thế giới Ý nghĩa về mặt lập luận: Tăng tính thuyết phục của bản tuyên ngôn độc lập Thể hiện sự khôn ngoan, khéo léo trong cách chiến đấu với kẻ thù. Dùng phương pháp “gậy ông đập lưng ông”, dùng chính lý lẽ chính nghĩa của chính Pháp, Mỹ để đập lại những lập luận xảo trá của chúng. c) Câu 3 (Trang 42 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Hồ Chí Minh đã lật tẩy bộ mặt gian xảo mà thực dân Pháp áp chế lên nhân dân ta với những bằng chứng, lý lẽ khiến chúng không thể chối cãi. Thực dân Pháp kéo quân sang nước ta thì ra điệu “khai hóa” đầy cao thượng nhưng thực chất chúng “cướp nước ta, áp bức đồng bào” ta: Minh chứng cụ thể về tình hình thực trạng đất nước “xác xơ”, “tiêu điều”, người dân thì “nghèo nàn”, “thiếu thốn”. Điệp từ “chúng” lặp lại nhiều lần có tác dụng liệt ra hàng loạt những tội ác đáng căm phẫn của bọn thực dân → thể hiện sự căm phẫn đến tột cùng. Thực dân Pháp luôn kể công rằng chúng “bảo hộ” nhưng thực tế lại là “bán nước ta hai lần cho Nhật”: Năm 1940, phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, thực dân Pháp “quỳ gối, đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”. Pháp “nhẫn tâm giết tù chính trị”, “thẳng tay khủng bố Việt Minh”. Pháp coi Đông Dương là thuộc địa của chúng, Bác đã một lần nữa khẳng định Đông Dương là thuộc địa của Nhật. ⇒ Bản Tuyên ngôn Độc lập chính là lời khẳng định đanh thép, sắc bén về nền độc lập của dân tộc có được là từ đấu tranh xương máu của nhân dân và tố cáo những luận điệu gian xảo, mưu đồ bất chính của thực dân Pháp. d) Câu 4 (Trang 42 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ chủ tịch là một áng văn chính luận xuất sắc nhất mọi thời đại: lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, thuyết phục, ngôn ngữ ngắn gọn mà hùng hồn. – Lý luận thống nhất và chặt chẽ xuyên suốt toàn tác phẩm – Luận điểm xác thực, sắc bén, không thể chối cãi được – Lý lẽ đanh thép, sắc sảo, đầy sức thuyết phục – Giọng văn hùng hồn biểu hiện thái độ dứt khoát và tính chiến đấu mạnh mẽ ⇒ Tuyên ngôn Độc lập xứng đáng là bản áng thiên cổ hùng văn xuất sắc, có giá trị lịch sử to lớn nhất mọi thời đại. 4. Soạn bài Tuyên ngôn Độc lập: Phần luyện tập4.1. Tuyên ngôn độc lập Phần 1: Tác giảa) Câu 1 (Trang 33 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Tác phẩm “Chiều tối” – Bút pháp cổ điển: Đề tài thơ: vẻ đẹp dung hoà giữa bức tranh thiên nhiên và con người trong buổi chiều Thể thơ: thể Đường luật Hình ảnh trong thơ cổ: chòm mây, cánh chim… Nghệ thuật lấy động tả tĩnh, tả cảnh gợi tình – Bút pháp hiện đại: Lấy con người làm trung tâm Bộc lộ trực tiếp cảm xúc và sự đồng cảm Tác phẩm “Nhật kí trong tù” – Chất cổ điển: thể thơ, sử dụng các hình ảnh cổ điển cùng với bút pháp tả cảnh ngụ tình – Chất hiện đại: tinh thần chiến đấu không bị khuất phục cùng ý chí kiên cường được bộc lộ trực tiếp ⇒ Thơ của Bác luôn chân thành, chan chứa cảm xúc, sử dụng thi liệu cổ điển với các hình ảnh tự nhiên để làm nổi bật tinh thần hiện đại b) Câu 2 (Trang 34 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Bài học sâu sắc, lắng đọng khi đọc Nhật kí trong tù: – Vượt lên mọi nghịch cảnh và giữ gìn phẩm chất tốt đẹp – Tinh thần lạc quan, ung dung tự tại, yêu đời, yêu cuộc sống. – Lòng yêu nước nồng nàn 4.2. Tuyên ngôn độc lập Phần 2: Tác phẩm(Trang 42 SGK Ngữ Văn 12 tập 1) Lí do bản Tuyên ngôn độc lập là áng văn chính luận lay động hàng chục triệu trái tim người Việt Nam: Bản Tuyên ngôn là sản phẩm văn học của một con người có trí tuệ, một hệ tư tưởng và văn hóa lớn Bản tuyên ngôn có kết cấu 3 phần rõ ràng: đưa ra cơ sở pháp lí, cơ sở thực tiễn với những dẫn chứng xác thực, sắc bén sau cùng mới đi đến lời tuyên ngôn như một lẽ tất nhiên Lập luận sắc bén, lí lẽ đanh thép, dẫn chứng thuyết phục: Hệ thống luận điểm, luận cứ rành mạch Chứng cứ xác thực: sử dụng nhiều cụm từ “sự thật là” Sử dụng khéo léo các quan hệ từ: tuy vậy. thế mà, … Bản tuyên ngôn còn là sản phẩm của những tình cảm lớn lao: tình yêu nước thương dân nồng nàn, khát khao giành lại độc lập dân tộc và lòng căm thù giặc Điệp từ “chúng” nhiều lần. Giọng văn chính luận đa dạng: đanh thép khi vạch tội kẻ thù; ôn tồn, thấu tình đạt lí khi nói về cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc; trang trọng, hùng hồn trong lời tuyên ngôn. Nội dung chính của tác phẩm: – Giá trị nội dung: Bản tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử quan trọng, là lời tuyên bố trước toàn thể người dân Việt Nam và thế giới về việc chấm dứt hoàn toàn chế độ phong kiến, thực dân ở nước ta, đánh dấu kỉ nguyên độc lập, tự do, hạnh phúc của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Bản Tuyên ngôn vừa là bản án lên án mạnh mẽ tội ác man rợ của thực dân Pháp, ngăn chặn âm mưu đen tối của các thế lực thù địch cùng các phe nhóm có định xâm lược, chia rẽ, vừa bộc lộ tình yêu nước, thương dân sâu sắc và khát vọng độc lập, tự do cháy bỏng của Hồ Chí Minh. – Giá trị nghệ thuật: Lập luận chặt chẽ, sắc bén, lí lẽ hào hùng cùng chứng cứ xác thực Ngôn ngữ đa dạng: đanh thép khi vạch tội kẻ thù; ôn tồn, thấu tình đạt lí khi nói về cuộc chiến đấu chính nghĩa của dân tộc; trang trọng, hùng hồn trong lời tuyên ngôn. Hình ảnh giàu sức gợi cảm. Qua bài viết này, VUIHOC đã cung cấp cho các em soạn bài Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh một cách chi tiết và đầy đủ nhất. Hi vọng rằng có thể giúp các bạn hiểu rõ hơn về ý nghĩa mà tác phẩm tuyệt vời này đem lại. Để tham khảo thêm các bài học và các tác phẩm khác trong bộ bài viết Soạn văn 12 trong chương trình THPT thì các em hãy truy cập vuihoc.vn hoặc đăng ký khoá học với các thầy cô VUIHOC ngay bây giờ nhé! Nguồn tham khảo: https://vuihoc.vn/tin/thpt-soan-bai-tuyen-ngon-doc-lap-1733.html